Sản xuất và canh tác chè hữu cơ giáo trình cơ bản – Trà Hữu Cơ Mộc Trà Thái Nguyên

Sản xuất và canh tác chè hữu cơ giáo trình cơ bản

Giới thiệu về cây chè

Chè hữu cơ lần đầu tiên được sản xuất năm 1986 ở Sri Lanka. Từ đó trở đi, chè hữu cơ phổ biến rộng khắp Ấn Độ và Sri Lanka. Hiện nay, có khoảng 5.000 héc ta chè đang được trồng theo phương pháp hữu cơ. Một số các nước khác đang sản xuất chè hữu cơ gồm có Trung Quốc, Nhật Bản, Seychelles, Tanzania, Kenya, Malawi và Ác-hen-ti-na. Ở Việt Nam, chè hữu cơ được sản xuất ở Yên Bái, Thái Nguyên và Lào Cai.

Những nội dung dưới đây nhằm hướng dẫn chuyển đổi một vườn chè có sẵn sang sản xuất hữu cơ. Nội dung này phần lớn dựa vào kinh nghiệm từ dự án chè hữu cơ do Niu–Di-Lân tài trợ ở tỉnh Thái Nguyên và các hướng dẫn do tổ chức Naturland của Đức chuẩn bị dựa trên các mô hình sản xuất chè hữu cơ được ứng dụng trên quốc tế.

Thời gian chuyển đổi tối thiểu đối với một vườn chè thông thường sang canh tác hữu cơ là 18 tháng (theo tiêu chuẩn cơ bản của IFOAM).

Quản lý đất và nước khi trồng chè

Quản lý đất
Nguyên tắc chung là nhằm tối thiểu hóa số lần và độ sâu làm đất canh tác trong một năm, trong điều kiện lý tưởng các vi sinh vật và giun đất sẽ đảo đất một cách tự nhiên.

Khi có yêu cầu biện pháp canh tác để loại bỏ cỏ dại không cần thiết thì dùng cuốc/xới rẫy cỏ phía trên mặt đất và chỉ làm tơi xốp đất bề mặt.

Khi nông dân mô tả đất có các điều kiện tốt nhất, họ thường nói về đất “tơi xốp”. Đất tơi xốp là do đất thoáng khí và có nhiều vật chất hữu cơ trong đất. Thách thức đối với nông dân là làm giảm sự rắn chặt của đất ở giữa các cây trồng. Khi đất rắn sẽ có ít ô xy trongđất và dẫn đến các vi sinh vật trong đất ngừng hoạt động và làm cho chất dinh dưỡng có sẵn cho cây trồng sử dụng ít hơn. Khi mức vật chất hữu cơ trong đất cao thì đất ít bị chặt hơn. Nguyên nhân làm cho đất bị chặt là do đi lại dẫm lên đất và do mưa lớn.

Cách làm tốt nhất – Giảm tối thiểu thời gian để trơ trụi bề mặt đất. Bảo vệ đất khỏi ánh nắng trực xạ và xói mòn. Xây dựng độ vật chất hữu cơ bằng việc sử dụng phân ủ, trồng cây che phủ và tạo lớp vật liệu phủ bề mặt. Các thao tác tác thận trọng trong canh tác cũng quan trọng như cắt cỏ tốt hơn là xới cỏ sâu.

Che phủ
Lớp phủ làm giảm sự nén chặt của đất, cung cấp vật chất hữu cơ và rất có ích cho duy trìđộ ẩm của đất.

Sử dụng các vật liệu hữu cơ thu gom trong trại để che phủ tới mức có thể. Chỉ có thể sửdụng một lượng nhỏ vật liệu che phủ từ ngoài trang trại và chúng không được lấy từ rừng. Thông thường vật liệu che phủ là rơm hoặc vật liệu thực vật khác.

Che phủ giữa các hàng (cho chè hoặc các cây trồng khác) với một lớp vật liệu dày khoảng 10-15cm được khuyến cáo Nên che phủ sau khi bón phân hữu cơ (phân ủ hoặc phân vi sinh) trong các tháng 12, tháng 1 và tháng 8 (đối với Thái Nguyên).

Ẩm độ đất
Quan trọng là phải giữ độ ẩm đất đủ tốt để giúp cho các vi sinh vật hoạt động. Khi đất bịkhô, cây trồng không thể hút các chất dinh dưỡng một cách hiệu quả. Độ ẩm được duy trì thông qua lượng mưa định kỳ và việc tưới nước, che phủ cũng có thể được dùng để ngăn sự bay hơi nước của đất khi thời tiết nóng.

Trong điều kiện khô hạn, sử dụng nước sạch để tưới. Tránh sử dụng nước có chứa các chất không được phép sử dụng trong nông nghiệp hữu cơ, như thuốc trừ sâu hóa học hoặc kim loại nặng.

Có thể tưới 3-4 lần trong một tháng cho đến hết mùa khô tùy theo loại đất và sự sẵn có của nước là một cách được chỉ dẫn trong sản xuất chè.

Dinh dưỡng cây trồng và dòng dinh dưỡng

Đất khỏe mạnh làm cho cây trồng khỏe mạnh. Để có đất khỏe mạnh, việc cải thiện cấu trúc và độ phì của đất thông qua các biện pháp quản lý sát sao và sử dụng các đầu vào hữu cơ là cần thiết. Các đầu vào này gồm phân ủ, cây phân xanh, chất khoáng (khoáng đá tựnhiên), phân vi sinh và phân bón dạng lỏng.

Cách làm tốt nhất bắt đầu bằng việc xây dựng nên lượng vật chất hữu cơ trong đất. Vật liệu thực vật và phân ủ rất cần cho quá trình này.

Các yêu cầu dinh dưỡng
Một lượng lớn các chất dinh dưỡng trong trại đã bị mất đi qua các lá chè được thu hái liên tục. Bảng 4 cung cấp số liệu bình quân lượng dinh dưỡng bị thất thoát ở các vùng trồng chè khác nhau trên thế giới. (Chú ý là các số liệu này dựa trên cơ sở nghiên cứu đã tiến hành ở các khu vực trồng chè thông thường. Vì thế, các giá trị này chỉ là dẫn chứng và không thể sử dụng hoàn toàn cho các khu trồng chè hữu cơ). Bảng 5 cho thấy vật liệu thực vật bị bỏ đi qua một chu kỳ cắt tỉa cũng chứa rất nhiều dinh duỡng. Bên cạnh đó, một cây trồng lâu năm như cây chè đòi hỏi một lượng dinh dưỡng đáng kể để chúng phát triển rễ, thân và cành nhánh.

Bảng 4 – Thất thoát dinh dưỡng bình quân (kg/tấn chè/ha/năm) ở các vùng trồng chè khác nhau

VùngĐạm (N)Lân (P2O5)Kali (K2O)
Bắc Ấn Độ501020
Nam Ấn Độ651535
Sri Lanka45821
Đông Phi425-824

Bảng 5 – Tổn thất dinh dưỡng qua một chu kỳ cắt tỉa 3 năm

Tổn thấtĐạm (N)Lân (P2O5)Kali (K2O)
Cắt tỉa85135570

Quản lý việc bón phân hữu cơ
Tại thời điểm bắt đầu chuyển đổi, vườn chè cần được phát triển một cách hợp lý để trong giai đoạn chuyển đổi sẽ chuyển hướng từ canh tác độc canh sang một hệ canh tác đa dạng hóa cây trồng. Dọc theo cây chè hoa lợi, nên trồng các cây khác để cải thiện sự màu mỡcủa đất, cung cấp nguồn cung dinh dưỡng (đặc biệt là đạm), tăng tính đa dạng (môi trường sống cho các côn trùng có lợi), cung cấp gỗ (củi đun và vật liệu xây dựng) và (nếu có kinh nghiệm) để cung cấp thức ăn cho chăn nuôi trong trại. Mục đích chính là để đáp ứng đủnguồn dự trữ vật chất hữu cơ cho các khóm chè. Đối với loại cây trồng lâu năm như cây chè, việc phân bố vật chất hữu cơ khắp trên vườn chè sẽ là cách được ưu tiên hơn là cách sử dụng nhiều nhân công cho ủ phân. Phần tiếp theo sẽ cung cấp thông tin chi tiết hơn vềcác nguồn cung cấp dinh dưỡng sẵn có khác nhau trong sản xuất chè hữu cơ: 

Rác lá rụng và vật liệu cắt tỉa từ cây bóng mát:
Lá rụng được cung cấp cho vườn chè mà không cần phải thêm bất kỳ nhân công nào. Tuy nhiên, để cắt tỉa cây che bóng cần phải tính toán số giờ làm việc thêm. Bảng 6 đưa ra một ví dụ từ Ấn Độ về số lượng chất dinh dưỡng được cung cấp từ vật liệu thải của cây che bóng.

Bảng 6 – Thành phần dinh dưỡng của rác thải từ Albizzia chinensis

Dinh dưỡng (kg/ha)Tối thiểuTối đa
N85122.5
P2O5 17.644.0
K2O 14.235.5
CaO 25.563.5
MgO 12.412.4

Số cây che bóng biến đổi theo địa điểm và giống cây. Vật liệu cắt tỉa nên giữ lại làm lớpphủ trực tiếp tại địa điểm đó hoặc sử dụng làm vật liệu ủ phân. Ngay cả khi vật liệu cắt tỉađược làm nhiên liệu, ít nhất tro của nó nên dùng để bổ sung dinh dưỡng cho chè (là nguồn bổ sung kali).

Ba khía cạnh cần chú ý, để tạo điều kiện cần thiết cho đời sống trong đất để tiếp tục phân hủy vật chất:

•  Vật liệu cắt tỉa cần chặt thành những miếng nhỏ (2-5cm)

•   Vật liệu sau đó phải được rải quanh khóm chè

•  Những vật liệu giàu các bon như cành nhánh cây và những vật liệu cây thân gỗ khác cần

được trộn lẫn với một số vật liệu giàu ni tơ như lá cây v.v.. của cây phân xanh để có được một tỉ lệ tốt giữa các bon/nitơ giúp cho quá trình phân hủy thành công.

Phân ủ
Phân ủ chủ yếu được làm từ vật liệu cây xanh, rơm và phân động vật. Một khía cạnh quan trọng trong quá trình làm phân ủ là việc thu gom các vật liệu hữu cơ lại thành đống với nhau và có lớp che phủ ở trên cùng để tránh nước mưa chảy vào trong. Khi đống vật liệuđược tạo thành, nó phải nóng dần lên. Quá trình nóng lên này rất quan trọng để giết chết các bệnh hại không mong muốn và thúc đẩy sự phân hủy các vật liệu thực vật. Đống phân có thể được đảo để duy trì tiến trình ủ phân hoạt động tốt. Sản phẩm sau khi hoàn thành sẽlà một hỗn hợp giống như đất

Để có phân ủ tốt, quan trọng là phải có một hỗn hợp vật liệu chứa thành phần ni tơ (N) cao và những vật liệu chứa các bon (C) cao. Vật liệu có nhiều ni tơ (N) gồm tất cả các loại phân động vật, lá cây tươi v.v…. Vật liệu có nhiều các bon (C) gồm các vật liệu gỗ nhưthân cây, cành nhánh non v.v.. Phụ lục 3 sẽ cung cấp thông tin chi tiết hơn về thành phần N và C của các loại vật liệu và thực vật khác nhau.

Chú ý – Hầu hết các tiêu chuẩn hữu cơ trên thế giới yêu cầu phân động vật phải trải qua quá trình ủ nóng hoặc ngấu trước khi sử dụng.

Hướng dẫn bón phân ủ cho đất (đối với tỉnh Thái Nguyên) như sau:

•   1.5 tấn/sào (360 m2).

•  Thời gian bón lần đầu: 1 tháng trước khi cắt tỉa (tháng 11-tháng 12) cùng với tỉa cành và lá già (50%).

•  Bón lần 2: tháng 6-tháng 7 (50%).

Cây phân xanh và cây cố định đạm
Cây phân xanh được trồng để cung cấp vật chất hữu cơ, che phủ mặt đất, ngăn cản cỏ phát triển vì bị cớm nắng và cung cấp đạm cho đất. Để lựa chọn được loại cây phân xanh tốt nhất thì kiến thức ở địa phương là rất quan trọng. Nhiều nông dân ở Việt Nam có kinh nghiệm hay về cây Cốt khí và Muồng lá nhọn.

Bộ lá của cây phân xanh cũng như của các cây trồng khác, nên giữ như là vật liệu che phủtrên diện tích khu vườn. Trên những trang trại chè mà ở đó có động vật nuôi thì nên lựa chọn cây phân xanh có thể dùng như là cây làm thức ăn cho gia súc.

Việc hoàn trả lại vật liệu cắt tỉa từ khóm chè
Như đã đề cập (xem bảng 5), vật liệu cắt tỉa từ những khóm chè chứa một lượng dinh dưỡng đáng kể (đặc biệt sau khi cắt tỉa đau và/hoặc làm cây trẻ lại). Các chất dinh dưỡng này không nên di chuyển ra khỏi vườn chè (ví dụ như làm nhiên liệu), mà nên dùng trực tiếp để làm lớp che phủ hoặc để ủ phân (giống như cây che bóng ).

Lựa chọn đầu vào bổ sung cho đất
Khi toàn bộ lượng phân ủ và vật liệu thực vật từ cây phân xanh không thể đáp ứng đủ, cácđầu vào khác có thể sử dụng như là phân vi sinh và đá lân tự nhiên. Tuy nhiên, đối với các sản phẩm được mua để sử dụng phải đảm bảo thỏa mãn các tiêu chuẩn hữu cơ, đồng thời không chữa thành phần không cho phép trong canh tác hữu cơ, như rác thải đô thị và phân bón hóa học. Trong thực tế, một sản phẩm nào đó của công ty gọi là “hữu cơ” không có nghĩa là nó được phép sử dụng trong nông nghiệp hữu cơ! Phân bón vi sinh Biogro là một sản phẩm được phê chuẩn, do Phòng thí nghiệm phân vi sinh của Trường Đại học tổng hợp Hà Nội sản xuất. Tỉ lệ bón khuyến cáo cho chè là 300kg/sào.

Bón phân qua lá cho cây

Phân bón qua lá có ích lợi cung cấp các chất vi dinh dưỡng cho cây trồng. Phân bón qua lá có thể được sản xuất từ trang trại bằng nhiều vật liệu động vật và thực vật khác nhau. Phương pháp thông thường là cho vật liệu thực vật, phân ủ và một chút đường vào trong một cái xô và cho thêm nước vào đó, nguấy đều và để đó ít nhất 12 tiếng. Từ dung dịchđặc này lấy ra khoảng 1 lít và hòa với 10-20 lít nước. Dùng bình phun đeo lưng để phun hoặc rót lên cây

Tốt nhất là sử dụng chất lỏng tươi. Phân lỏng cũ có mùi nên đưa vào trong đống phân ủ. Bón phân qua lá cho chè cứ 7-10 ngày nhưng dừng bón 7-10 ngày trước khi hái để tránh bất kỳ tàn dư và mùi của chất lỏng trên lá chè.

Cũng có những loại phân bón qua lá thương phẩm có thể mua được nhưng phải cẩn thận khi mua để đảm bảo chúng tuân thủ các tiêu chuẩn hữu cơ (như với phân vi sinh).

Quản lý sâu bệnh hại cây chè

Sức khỏe cây trồng
Nguyên tắc chỉ đạo quản lý sâu bệnh hại là làm cân bằng và ổn định ở bên trong của hệthống hữu cơ bằng cách khuyến khích các mối tương tác và các tiến trình có lợi xuất hiện trong hệ sinh thái tự nhiên, và kết quả là các biện pháp kiểm soát bên ngoài được hạn chế ở mức thấp nhất.

Kinh nghiệm cho thấy tần xuất nhiễm sâu bệnh hại giảm xuống trong giai đoạn chuyểnđổi. Vì thế, giai đoạn này đòi hỏi mọi yêu cầu cần thiết phải được đáp ứng ngay từ đầu của giai đoạn chuyển đổi (tạo ra tiểu khí hậu tốt, khuyến khích các côn trùng có lợi v.v…). ỞViệt Nam có một số sâu hại phổ biến trong giai đoạn chuyển đổi này. Tuy nhiên, bọ xít muỗi có thể gây trở ngại ở một số khu vực, vì đây là kinh nghiệm của nông dân tỉnh Thái Nguyên.

Các lựa chọn đầu vào
Các tiêu chuẩn hữu cơ thường cung cấp một danh sách các đầu vào được phê chuẩn. Ví dụvề một số lựa chọn khác nhau gồm (xem phần 7.3-7.5):

•   Thuốc trừ sâu sinh học như Bacillus thuringiensis (BT).

•   Thuốc thảo mộc như ớt cay; hạt hoặc lá xoan; tỏi.

•   Bẫy như bẫy dính hoặc bẫy màu

•   Chất dẫn dụ sinh sản Pheromon

 Dưới đây là một danh sách các biện pháp chống lại sự lây lan của sâu bệnh hại hiện nay đãđược ứng dụng ở các vùng khác nhau trên thế giới:

Sâu bệnh hại Biện pháp đối phó sinh học
Bệnh phồng lá chè (Exobasidium vexans) Các biện pháp phòng ngừa là quan trọng (tạo vùng tiểu khí hậu, vệ sinh dự phòng, v.v.); Các chất điều chế từ đồng được phép sử dụng trong trường hợp khẩn cấp
Bọ xít muỗi (Helopeltis sp.) Khuyến khích thiên địch, giới thiệu BT. Hái chè thường xuyên (một lần một tuần) sẽ loại bỏtrứng sâu khỏi cánh đồng. Luôn bắt đầu hái chè ở nơi không bị nhiễm sâu bệnh hại. Tránh trồng các cây chủ khác như mua, sim và cỏ lao. Trong trường hợp xấu, cắt tỉa và phun dung dịch xoan
Nhện đỏ Có đầy đủ bóng râm sẽ ngăn cản sự phát triển của nhện, loại bỏ cỏ dại trước khi vụ thu hoạch chính bắt đầu.
Trong trường hợp khẩn cấp, có thể sử dụng chiết xuất từ xoan để phun.
Sâu ăn lá Đặt bẫy đèn, bắt sâu bướm ở trong đất, trong khóm chè và cây che bóng
Bọ trĩ Trồng cây phân xanh và cây che bóng, phun nước vôi và xà phòng trong trường hợp khẩn cấp hoặc sau khi cắt tỉa, xới xáo đất quanh khóm chè trong những tháng lạnh để giết nhộng
Rầy xanh hại lá chè Hái thường xuyên (một tuần một lần) sẽ loại bỏ trứng khỏi cánh đồng. Khuyến khích thiênđịch. Trồng cây che bóng và che phủ đất

Về mặt nguyên tắc, “các biện pháp khẩn cấp” như chế phẩm xoan hoặc BT, không thể sửdụng để phun phòng (xem phần 7.5). Các biện pháp liên quan đến chất điều chế từ đồng (ví dụ hỗn hợp Bóc đô) phải được sử dụng dè xẻn (và phải được cơ quan cấp giấy chứng nhận thông qua trước khi dùng).

Sau khi các khóm chè được cắt tỉa, chúng cần được bảo vệ khỏi nhiễm sâu bệnh hại. Sáp tự nhiên được dùng để bảo vệ các vết cắt, và dung dịch xút dùng để rửa các cành chè phía thấp (dung dịch xút có thể được chế từ 6kg xà phòng, 2-3kg vôi và 100 lít nước). Các khóm chè cũng có thể được cắt tỉa để đối phó với sâu bệnh hại bằng cách cắt bỏ những cành bị nhiễm sâu bệnh hại (“làm sạch dao”).

Nếu cần thiết, các cây che bóng cũng nên được bảo vệ khỏi sự tấn công của sâu hại, ví dụsử dụng các dải bẫy. Mặt khác, cây che bóng có thể ngăn cản một số sâu hại nhất định, và hơn nữa, trong một số trường hợp chúng có thể biểu hiện như cây chủ cho một số sâu bệnh hại nhất định.

Chú ý rằng trong trang trại hữu cơ dụng cụ phun chỉ được dùng để phun hữu cơ. Nếu một trang trại chè hữu cơ vẫn có ruộng canh tác theo thông thường như lúa hoặc rau, thì phải dùng dụng cụ phun riêng biệt cho các ruộng này.

Hướng dẫn về các biện pháp hiệu quả nhất để khuyến khích nông dân :

•   Thăm đồng thường xuyên để quan sát cây trồng và để theo dõi mức độ sâu hại và thiên địch trên trang trại.

•   Khuyến khích đa dạng sinh học trên trang trại bằng trồng cây làm thức ăn và nơi cu trú cho côn trùng như nhện, bọ ngựa, bọ rùa và các loại thiên địch khác như chim chóc.

•   Duy trì ở mức tối thiểu việc phun các vật liệu lên cây trồng (một số thuốc thảo mộc nhưni-cô-tin rất độc hại cho con người hoặc các côn trùng có ích!).

•   Giữ trang trại không bị các loại cỏ dại gây hại.

•   Tạo thế cân bằng có lợi của cây che bóng.

•   Thường xuyên hái các búp đạt tiêu chuẩn (tránh khoảng thời gian giữa các lần hái dài –

để ngăn ngừa sâu hại phá hại lá chè, ví dụ nhưn rầy hại lá và bọ xít muỗi).

Quản lý khu trồng chè

Các yêu cầu về khu trồng chè

Các điều kiện lý tưởng để trồng chè là nhiệt độ trung bình hàng năm khoảng 18-20°C, sốgiờ chiếu sáng bình quân hàng ngày 4 tiếng/ngày, và lượng mưa tối thiểu một năm là

1600mm. Độ ẩm tương đối nằm trong khoảng từ 70-90%. Ở những vùng có mùa khô hạn kéo dài, cây che bóng đóng một vai trò quan trọng trong việc cung cấp và duy trì độ ẩmđầy đủ cho cây. Ngoài ra, những vườn chè ở vùng có nhiều gió nên được bảo vệ bằng các hàng rào chắn gió như cây hàng chắn để giảm cường độ bốc hơi nước.

Đất nên sâu, thoát nước tốt và thoáng khí. Đất giàu dinh dưỡng và ít chua là đất tốt nhất (độ pH tối ưu là 4.5-5.5). Để có được một đất thoát nước tốt, thoáng khí lâu dài và hiệu quả cần kết hợp trồng cây che bóng và cây phân xanh có rễ ăn sâu.

Hạt giống và cây con
Trong canh tác hữu cơ, các giống biến đổi gen (GMO) không được phép sử dụng. Cây chèđược nhân giống bằng cả sinh sản hưũ tính (thông qua hạt giống) và vô tính (thông qua cành giâm). Khi sử dụng hạt để nhân giống, cách này được khuyến cáo là nên thiết lập một vườn ươm để cây có thể phát triển trong các điều kiện được kiểm soát và vườn ươm nênđược xây dựng ngay trong vườn chè để đảm bảo cung cấp liên tục các cây con chưa bị xửlý và khỏe mạnh.

Địa điểm chọn làm vườn ươm nên đáp ứng được các điều kiện sau:

•   Một nơi được bảo vệ

•   Có khả năng cung cấp đủ nước

•   Nếu có thể, là nơi đất chưa được canh tác (đất còn mới nguyên)

•   Chuẩn bị khu vườn với việc trồng các cây họ đậu (1-2 năm, ví dụ trồng cây súc sắc, cốt

khí để sau này được làm lớp phủ)

•   Che bóng tự nhiên (ví dụ cốt khí, súc sắc, điền thanh.)

 Nếu cây con được mua từ bên ngoài, thì tốt nhất nên chọn những cây con từ vườn ươm có các điều kiện của khu vườn và độ cao so với mặt biển giống như của vườn chè.

Phương pháp trồng
Khi thiết lập một khu trồng chè mới, cần phải chú ý nhổ bằng tay để loại trừ các loại cỏkhó cùng với rễ của chúng như cỏ Alang-Alang (Imperata cylindrica). Kế tiếp sau đó là trồng trồng các loại cây che phủ phát triển nhanh như cỏ Guatemala (Tripsacum laxum),để ngăn chặn sự tăng trưởng của những loại cỏ dại không mong muốn. Khi chè được trồng trên các ruồng bậc thang, nên trồng cây phân xanh như lạc dại (Arachis pintoi) để bảo vệ đất khỏi bị khô

Những khu trồng chè mới, đặc biệt những vườn chè trồng trên đất dốc, có rủi ro rất lớn vềxói mòn mà vấn đề này sẽ dẫn đến làm cho đất bị mất dinh dưỡng và thoái hóa. Vì thế, những khu chè trên đất dốc nên trồng theo các đường đồng mức. Nếu có thể, nên trồng thêm cây hàng chắn (ví dụ cốt khí), đặc biệt là trong những năm đầu tiên hình thành các khóm chè. Đất cao và dốc đặc biệt có rủi ro về xói mòn, vì vậy không nên sử dụng để canh tác chè. Những khu vực này tốt hơn là nên được bảo vệ bằng cách trồng rừng thường xuyên dọc theo chúng.

Chè có thể trồng trong khoảng từ 10,000 đến 20,000 cây trên một héc ta, tùy thuộc vào khoảng trống giữa các hàng và các cây. Mật độ cây trồng nên được điều chỉnh cho phù hợp với các điều kiện của vườn chè (độ dốc, độ cao so với mặt biển, tiểu khí hậu v.v.) cũng như kết hợp chặt chẽ với các cây che bóng cần thiết trong khu trồng chè hữu cơ.

Quản lý cỏ dại
Cỏ dại có thể có ích khi làm thức ăn và chỗ ẩn náu cho những côn trùng có lợi. Cỏ dại cũng có ích vì nó là nguồn dinh dưỡng cho đất, đặc biệt là những loại cỏ có rễ sâu hútđược các chất khoáng ở sâu trong lòng đất. Nhưng cỏ dại cũng cạnh tranh dinh dưỡng vàđộ ẩm của đất với cây trồng.

Các biện pháp để ngăn chặn sự tăng trưởng của quần thực vật không mong muốn khi bắtđầu hình thành một khu trồng chè mới đã được đề cập đến trong phần trước. Về nguyên tắc các biện pháp này cũng áp dụng đối với các khóm chè sau một lần cắt tỉa lá già. (một cách tỉa làm trẻ cây)

Các phương pháp che phủ được khuyến cáo đặc biệt để chống cỏ dại một cách hiệu quả(và ngăn ngừa xói mòn). Không nên rẫy cỏ ở những khu vực có rủi ro xói mòn.

Các biện pháp hiệu quả nhất để quản lý cỏ dại gồm:

•   Giữ cho tán các khóm chè giao khít với nhau tới mức có thể.

•   Làm cỏ bằng tay vào những ngày nắng để cỏ dại dễ bị chết hơn.

•   Che phủ đất giữa các hàng nếu có sẵn vật liệu che phủ.

Cây che bóng

Cây che bóng có một tầm quan trọng rất lớn đối với canh tác chè hữu cơ. Sau đây là một số liệt kê các tác động tích cực của cây che bóng:

•   Cung cấp dinh dưỡng (ví dụ đạm, khi dùng cây họ đậu che bóng; chúng lấy dinh dưỡng về từ tầng đất sâu hơn; giảm sự thất thoát dinh dưỡng do rửa trôi)

•   Tích tụ các chất mùn

•   Bảo vệ các khóm chè khỏi ánh sáng trực xạ (năng suất chè có thể giảm khi thiếu độ che

bóng và bức xạ mặt trời quá mạnh )

•   Giảm xói mòn gây ra do gió và mưa (và mưa đá gây hại)

•   Ảnh hưởng đến chất lượng của chè

•   Có tác động tích cực tới tiểu khí hậu ví dụ trong giai đoạn khô hạn

•   Khuyến khích sự trú ngụ của các côn trùng có lợi

•   Tạo ra một môi truờng không khí dễ chịu cho những người hái chè.

Khi lựa chọn giống cây để trồng làm cây che bóng, điều quan trọng là sử dụng những giống đã thích nghi và sử dụng nhiều ở địa phương, bao gồm các loại cây họ đậu và một giống trong số các loài cây khác nhau được trồng phổ biến ở địa phương đó. Khi bắt đầu canh tác nên chú ý lựa chọn trồng kết hợp cả những giống cây che bóng mọc nhanh và không mọc nhanh. Để có sự kết hợp thích đáng các giống cây che bóng luôn phải dựa vào kinh nghiệm của địa phương hoặc trong một số trường hợp nào đó nên thử nghiệm ngay ở địa điểm. Ở Thái Nguyên, nhiều nông dân có kinh nghiệm hay về các loài cây cố định đạm như Muồng lá nhọn (Indigofera teysmanii). Các cây khác thường được trồng trong khu vườn chè như các loài keo kém phù hợp hơn vì cây keo thường cho bóng quá dày.

Cây che bóng cần được liên tục tỉa mỏng để tạo ra và duy trì một bóng râm tối ưu (vật liệu sau khi cắt tỉa nên dùng để ủ phân hoặc che phủ nếu có thể). Tỉa mỏng cũng giúp ngăn ngừa sự lây nhiễm bệnh phồng lá chè (Exobasidium vexans), mà loại này thường phát triển mạnh dưới điều kiện có bóng râm (và sau đó là ẩm ướt). Cây cho bóng nên được cắt tỉa gọn gàng để ngăn ngừa bệnh phồng lá phát triển trực tiếp trước khi bắt đầu mùa mưa.

Số lượng cây che bóng sẽ biến đổi theo các trang trại sản xuất khác nhau, đối với Thái nguyên hướng dẫn là 7-10 cây/sào. Có thể nói tới một nguyên tắc chung là vị trí vườn chè càng cao càng cần ít bóng râm hơn (và ngược lại).

Các biện pháp canh tác và duy trì cây chè

Quản lý những cây chè non
Hướng dẫn về các biện pháp hiệu quả nhất đòi hỏi nông dân tạo ra những điều kiện tốt nhất để chè sinh truởng. Điều này có nghĩa là cây chè phải nhận đủ dinh dưỡng từ phân ủvà các phân bón hữu cơ khác ở giai đoạn cây con, giai đoạn tạo cành cũng như ở giai đoạn kinh doanh.

•   Lựa chọn những con hoặc cành cắt của các cây trưởng thành tốt nhất.

•   Chuẩn bị trước đất trồng cùng với phân ủ

•   Khi cây con bắt đầu phát triển, bón phân hữu cơ ít nhất 2 lần 1 năm.

•   Phun dung dịch phân bón hữu cơ ít nhất 1 lần 1 năm.

•   Loại bỏ cỏ dại cạnh tranh dinh dưỡng và nước với cây con

 Các khóm chè được trồng theo rãnh có bón phân ủ che phủ vật liệu cắt tỉa. Cách làm này

giúp giữ nước, tăng dinh dưỡng và giảm xói mòn

Cắt tỉa các khóm chè

Cắt tỉa thường xuyên các khóm chè là một trong những biện pháp quan trọng nhất trong canh tác chè. Các khoảng thời gian cắt tỉa là khác nhau tùy thuộc vào vị trí vườn chè và hệthống hái chè. Thông thường cứ sau 3 năm, các khóm chè được cắt tỉa lại để có chiều cao thoải mái khi hái chè và sau đó cứ 15-20 năm cắt hoàn toàn (chỉ để chiều cao cây còn 30- 40cm). Tỉa theovòng đai chạm xuống tới đất được ứng dụng để làm chè trẻ lại. Sau khi cắt tỉa sâu, thường bón một lượng phân ủ lớn hơn (trung bình 10 tấn/ha).

Về cơ bản không có biện pháp cắt tỉa khác nhau được áp dụng cho khu vực trồng chè theo phương pháp thông thường. Nên lưu ý rằng khoảng thời gian giữa các lần cắt tỉa cũng ảnh hưởng đến việc cung cấp vật liệu hữu cơ cho đất. Khoảng cách giữa 2 lần cắt tỉa ngắn hơn thì cây bị cắt tỉa ít hơn và chắc chắn sẽ giúp cho các sinh vật đất phân hủy vật liệu cắt tỉa dễ dàng hơn.

Uốn các cây từ lúc cong non để có hình dáng cây tốt nhất.

Hướng dẫn chung cắt tỉa đối với sản xuất chè:

•  Đối với trang trại chè có điều kiện đất khô cằn thì cắt tỉa trong vòng từ tháng 12 đến tháng 1 năm sau.

•  Đối với trang trại chè có tưới nước thường xuyên thì cắt tỉa trong tháng 4.

Có nhiều phương pháp cắt tỉa và tạo dáng khác nhau cho khóm chè.

•  Làm cho vết cắt gọn bằng một dụng cụ sắc.

•  Trước tiên loại bỏ phần gỗ chết hoặc bị nhiễm bệnh.

•  Tạo hình dáng cho cây làm sao để có thể thu được ánh sáng mặt trời tối đa xung quanh từng khóm.

Những phần cắt tỉa của các cây nhiễm bệnh nên đốt. Tro sau khi đốt có thể trộn lẫn vào phân ủ. Tro củi là một nguồn cung cấp kali tốt.

Hái chè

Hái chè thường xuyên suốt cả vụ thu hoạch là cách tốt nhất để hạn chế sâu hại phá hoại búp chè phát triển. Lá thu hoạch tươi phải được vận chuyển và giữ trong những bao sạch (các túi phân bón cũ nghiêm cấm không được dùng để đựng chè).

Hướng dẫn chung đối với hái chè:

•  Chỉ hái những búp tiêu chuẩn khi vòm cây có khoảng 30% búp tiêu chuẩn. Không hái

theo định kỳ

•  Mùa xuân – bỏ2- 3 lá thật ,mùa hè–bỏ một lá thật,mùađ ông–khôn gbỏ lá nào.

Duy trì tính toàn vẹn hữu cơ của khu sản xuất chè

Con người là mấu chốt để duy trì tính toàn vẹn hữu cơ của một khu hữu cơ. Các nhóm nông dân tổ chức tốt cũng như có niềm tin vào các kỹ thuật sản xuất là nền tảng của bất kỳchương trình hữu cơ nào. Ở đâu mà các đầu vào không có nguồn gốc từ trang trại, nhà cung cấp phải được tập huấn về vai trò và trách nhiệm khi cung cấp các đầu vào “có thểchấp nhận được”.

Bố trí tự nhiên như vùng đệm và quản lý nước cũng rất quan trọng như nguồn phân động vật để kiểm soát các đầu vào không có nguồn gốc từ trang trại.Lý tưởng là toàn bộ nguồn phân được tạo ra trong trang trại nhưng trong nhiều trường hợp, phân động vật trong trang trại không đủ để sản xuất vì thế có thể bổ sung phân một lượng nhỏ phân động vật từ bên ngoài trang trại.

Chế biến chè

Chế biến là một phần quan trọng của quá trình để thu được sản phẩm chè có chất lượng tốt nhất. Thiết bị sạch và hiệu quả là yếu tố thiết yếu để có các sản phẩm đồng đều và ổn định về chất lượng. Chè hữu cơ phải luôn luôn cho chất lượng tốt nhất. Các cá thể nông dân hoặc nhóm nông dân có thể tự chế biến chè hữu cơ của riêng họ.

Chú ý là thiết bị chế biến được sử dụng riêng cho chế biến chè hữu cơ. Chú ý đảm bảo bảo rằng các vật chất bên ngoài không được làm hỏng chè được chế biến. Quan trọng là chè khi vận chuyển không được mở ngỏ và bảo vệ.

Các biện pháp tốt nhất yêu cầu nông dân:

•  Luôn luôn làm sạch thiết bị (máy sấy) trước khi sử dụng.

•  Phân loại chè cẩn thận để đảm bảo lá chè xanh để và có chất lượng ổn định. Vật liệu

không phù hợp nên loại bỏ trước khi sấy khô.

•  Các túi dùng để đựng chè hữu cơ chỉ được dán nhãn CHÈ HỮU CƠ.

Khi chế biến xong, chè khô phải được để riêng biệt với chè không hữu cơ. Từng túi hữu cơphải được dán nhãn CHÈ HỮU CƠ và ngày chế biến trên từng túi chè.

Chè phải được giữ trong những gói mới hoặc sạch, túi giấy nhôm hoặc thùng kín. Các túiđựng phân bón nghiêm cấm không được dùng để đựng chè hữu cơ.

Các nguồn sẵn có để sản xuất chè hữu cơ

Thường có quá ít động vật cho nguồn phân làm phân ủ. Những hạn chế khác đối với việc bón phân ủ là đất dốc và vận chuyển vật liệu xung quanh trang trại. Vì thế đòi hỏi phải có các hoạt động khác để làm tăng cho đủ lượng phân. Do đó mở rộng tối đa việc trồng trực tiếp cây phân xanh trên ruộng chè ở bất cứ nơi nào có thể. Nhìn chung trong hệ thống canh tác ở Việt nam có nhiều khả năng khác nhau để trồng cây che phủ và cây che bóng cung cấp vật liệu che phủ và/hoặc làm phân ủ.

Các loài cây che bóng và cây bụi khác sẽ được trồng xen để tạo ra một môi trường phát triển đa dạng và khỏe mạnh. Một số loại cây này cũng có thể cho thu hoạch để bổ sung thêm thu nhập cho người trồng. Những loài cây có đặc tính trừ nấm và trừ sâu cũng có thể được trồng.

Các khu vực không có cây trồng sẽ trồng cây họ đậu để kiểm soát xói mòn và cỏ dại, và đểsử dụng như là cây phân xanh và phân ủ.

Các nguồn lực có sẵn từ trong hệ thống trang trại đã được thảo luận ở phía trên. Đối với nông nghiệp hữu cơ, cây phân xanh (họ đậu và cỏ) cùng với các cây cố định đạm phải trởthành một bộ phận trong toàn bộ hệ thống canh tác hữu cơ.

Các đầu vào bên ngoài bao gồm các khoáng để điều hòa đất cũng như kiểm soát sâu hại và bệnh hại có thể sử dụng.

Trả lời